Lịch sử văn hóa

17/02/2017 04:26:02 Xem cỡ chữ

            Trấn Yên - mảnh đất cửa ngõ miền Tây Bắc Tổ quốc, một miền núi vùng thấp của tỉnh Yên Bái. Cộng đồng dân tộc Trấn Yên cư trú trên mảnh đất này từ nhiều đời nay. Sự phát hiện di chỉ Đào Thịnh (năm 1959) với hàng trăm hiện vật: Đồng thau, gốm thô và những công cụ đá mài đã khẳng định di chỉ Đào Thịnh là di chỉ đá đồng. Thạp đồng tìm thấy ở Đào Thịnh có tuổi 3000 + 120 năm và những hiện vật khác cho phép ta kết luận cộng đồng dân tộc Trấn Yên đã cư trú và khai phá vùng đất này- từ buổi các vua Hùng dựng nước.

Phiên bản Thạp đồng Đào Thịnh- có niên đại 3000+120 năm.

Theo “Hưng hoá phong thổ lục” của Hoàng Trọng Chính: Huyện Trấn Yên nguyên là đất Châu Đăng thời Lý. Tên huyện đặt từ thời Lê, đời Gia Long (1802) vẫn như thế. Đến năm Minh Mệnh thứ 17, đổi trang làm xã, lãnh 4 tổng, 30 xã, thuộc Phủ Quy Hoá, Trấn Hưng Hoá.

Diện tích đất đai của huyện Trấn Yên thay đổi theo quá  trình phát triển của lịch sử. Sau cách mạng tháng 8 toàn huyện có 52 xã trong đó thị xã Yên Bái là tỉnh lỵ lại vừa là huyện lỵ. Cuối năm 1953 tỉnh cắt xã Nguyễn Phúc và 4 dãy phố của thị xã Yên Bái ra khỏi Trấn Yên để xây dựng thị xã thành đơn vị hành chính độc lập. Tháng 3 năm 1965 lại tiếp tục cắt 19 xã thuộc vùng thượng huyện từ Ngòi Hóp lên tới Ngòi Hút để thành lập huyện Văn Yên mới. Đầu năm 1980 tỉnh quyết định chuyển 4 xã: Tuy Lộc, Nam Cường, Minh Bảo, Tân Thịnh về thị xã để xây dựng thị xã mới hoàn chỉnh kinh tế nông, lâm, công nghiệp.

  Năm 2008 thực hiện Nghị định 87/2008/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Trấn Yên để mở rộng thành phố Yên Bái và huyện Yên Bình. Huyện Trấn Yên còn lại 21 xã và 01 thị trấn.

Là miền đất có bề dày về lịch sử văn hoá, trong huyện có 6 dân tộc anh em đã sinh sống nhiều đời, nhiều thế kỷ sát cánh bên nhau, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quê hương đất nước.

_____________________________________________________________________________

Về thành phần dân tộc

1. Người Kinh

Chiếm 66,5% dân số, sinh sống chủ yếu ở các xã vùng ngoài và các xã phía Nam của huyện. Vùng 2 bên bờ sông Thao đã được người Kinh khai khẩn từ lâu đời, lập nên làng xóm đông đúc trù phú như vùng trung du Bắc Bộ. Người Kinh ở Trấn Yên sinh cơ lập nghiệp vào các thời kỳ: Thời kỳ đầu di thực từ Phú Thọ, Việt Trì theo sông Thao đến khai phá những vùng đất phù sa ven sông và cửa các con ngòi lớn, sau đó thành người bản địa đã sinh sống nhiều đời trên mảnh đất này. Tiếp đó là các đợt di thực vào thời kỳ thuộc Pháp, họ gồm phu kíp xây dựng đường sắt Yên Bái – Lào Cai, nông dân được mộ lên làm trong các đồn điền, một số bị thực dân mộ đi khai thác hầm mỏ, làm các công trình quân sự, một số khác đi khai thác lâm thổ sản… chủ yếu là người ở các tỉnh đồng bằng như Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây. Người Nam Định, Thái Bình, Hà Nam đến sinh sống tại các vùng Bách Lẫm, Yên Lương, Bình Trà, Bình Phượng, Phú Thọ, Dao Viễn, Lan Đình, Đại An, Yên Thái, Kiên Lao, Phú Nhuận, Trái Hút và dọc đường sắt Yên Bái – Lào Cai. Năm 1932 người Kinh ở Trấn Yên có 9541/20071 người – dân số toàn huyện.

Những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước có chủ trương điều chỉnh dân cư ở những vùng đồng bằng đông dân đến miền núi dân thưa thớt lập nghiệp trong cuộc vận động đi xây dựng kinh tế văn hoá miền núi; Năm 1962 huyện đón nhận nhân dân của các tỉnh Hưng Yên, tỉnh Hà Nam và Hà Nội lên lập nghiệp. Các năm 1973, 1974 lại tiếp nhận thêm 10.000 dân từ tỉnh Hà Nam Ninh lên xây dựng vùng kinh tế mới. Họ được định cư ở các xã Hưng Khánh, Hưng Thịnh, Hồng Ca, Lương Thịnh, Việt Thành, Đào Thịnh, Hoà Cuông, Quy Mông, Bảo Hưng, Văn Tiến, Tân Thịnh. Buổi đầu định cư đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới thành lập hợp tác xã, huyện và các xã giao đất, giao rừng để họ canh tác với việc thâm canh lúa là chủ yếu. Có hợp tác xã chuyên canh cây chè đạt hiệu quả kinh tế cao. Người Kinh từ miền xuôi lên định cư ở Trấn Yên mang theo những đặc điểm về văn hoá làng xã, dòng họ như ở các tỉnh miền xuôi, có nơi mang theo cả nghề truyền thống và xây dựng những làng nghề tại quê hương mới như: làm miến đao ở Giới Phiên, đan cót ở Minh Tiến…

Cuộc vận động chuyển dân vùng hồ để xây dựng nhà máy thuỷ điện Thác Bà cũng chuyển một lượng đáng kể người Kinh từ thung lũng sông Chảy sang định cư ở Quy Mông, Tân Đồng, Vân Hội. Đây là những gia đình đã di thực từ miền xuôi lên định cư tại huyện Yên Bình nay được chuyển đến định cư tại Trấn Yên.

_________________________________________________________________________________

           2. Người Tày

 Chiếm 20,5% dân số, sống chủ yếu ở các xã vùng sâu có bồn địa và ven suối lớn. Họ sống tập trung thành bản, ở nhà sàn, thâm canh lúa nước, chăn nuôi gia súc gia cầm. Đây là bộ phận đã định cư lâu đời ở các xã Hồng Ca, Hưng Khánh, Lương Thịnh, Việt Hồng, Vân Hội, Việt Cường, Kiên Thành, Đào Thịnh, Báo Đáp, Tân Đồng. Nhà sàn của người Tày rất rộng thường thì ba bốn thế hệ cùng sinh sống trong một ngôi nhà. Người Tày đoàn kết, thân ái với người Kinh và các sắc tộc khác, tính tình dịu dàng, đôn hậu, yêu nước thiết tha. Trong quá trình sinh sống luôn luôn chú ý giữ gìn môi trường sinh thái. Người Tày ở Hưng Khánh, Hồng Ca, Lương Thịnh là chủ nhân của các làn điệu Sli- lượn với cây đàn tính rộn ràng trong các ngày lễ tết.

_________________________________________________________________________________

            3. Người Dao

            Người Dao trong huyện định cư sau người Tày, họ có tập quán sống ở các sườn núi cao từ 300 – 400m so với mặt biển. Tổng số người Dao ở Trấn Yên chiếm  7,2% dân số, bao gồm cả người Sán Chay (Cao Lan).

            Trước những năm 1970 người Dao sống chủ yếu trên vùng núi, ở các ngọn suối, canh tác cơ bản là phát nương trồng rẫy. Trong cuộc vận động xây dựng hợp tác xã huyện đã kiên trì vận động và tổ chức các điều kiện hạ sơn để người Dao xuống núi và ruộng nước. Nhưng khu khai hoang vận động hạ sơn điển hình là khu Bát Lụa (Lương Thịnh), Vực Tròn (Lương Thịnh), Minh An (Y Can). Đến giữa những năm 1970 người Dao đã hạ sơn, định canh định cư xây dựng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ở các xã Việt Cường, Lương Thịnh, Y Can, Kiên Thành, Tân Đồng. Riêng nhánh Sán Chay (Cao Lan) thì định canh định cư tại 2 xã Hoà Cuông và Minh Quán.

            Người Dao có tập quán trồng bông dệt vải, nhuộm chàm, họ có những điệu nhảy trong lễ lập tĩnh, cấp sắc và những ngày hội cầu mùa; Người Sán Chay có các điệu múa Pâng Loóng “súc tép”, “chim gâu” rất duyên dáng và rất hình tượng. Hiện nay tập quán kéo sợi vải không còn nữa thay vào đó là những truyền thống mới - trồng quế làm của hồi môn cho con cái xây dựng gia đình.

_________________________________________________________________________________

            4. Người Mường

Chiếm 2,3%  dân số. Người Mường có nguồn gốc từ huyện Thanh Sơn (Phú Thọ) đã di thực theo sông Thao lên cư trú tại xã Quy Mông cách đây khoảng 150 năm. Họ sống thành cộng đồng trong làng Mường. Sản xuất chủ yếu là trồng cấy lúa nước, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Về trình độ canh tác và tập quán trong sinh hoạt cộng đồng có nét tương đồng với người Kinh. Người Mường ở Quy Mông ăn tết Nguyên Đán. Hiện nay vẫn còn giữ được một số nét đặc biệt về văn hoá truyền thống như dựng cây đu đầu xuân, trồng cây nêu vào ngày tết. Điệu múa “Mỡi” Mường ở Quy Mông rộn ràng, sôi động thường sử dụng vào các ngày lễ hội cầu mùa.

__________________________________________________________________________________

5. Người H’mông

Trong những năm đầu miền Bắc mới được giải phóng, huyện Trấn Yên cơ bản không có người H’mông. Theo điều tra năm 1932 của thực dân Pháp toàn huyện chỉ có 77 người H’mông sống rải rác ở các vùng núi cao miền thượng huyện.

           Từ các năm 80 người H’mông du cư từ Trạm Tấu, Văn Chấn ở các xã ranh giới của huyện. Họ ở tập trung thành bản H’mông ở Hồng Lâu (Hồng Ca), Đồng Ruộng (Kiên Thành) với tổng số người là 1.270 chiếm 1,9% dân số toàn huyện. Người H’mông có tập quán phát nương làm rẫy, sau nhiều lần trồng rẫy độ phì của đất tàn kiệt, rừng trơ trụi xác xơ người H’mông lại chuyển đến nơi khác. Trước khi đến nơi ở mới người H’mông cử một số người khoẻ mạnh đi tìm đất, nếu đất và rừng phù hợp với yêu cầu sinh sống thì họ ở lại phát rừng làm rẫy và làm lán cư trú tạm thời. Sau một số năm nơi ở mới có đủ điều kiện nuôi dưỡng cả bản, người H’mông bỏ bản cũ đến ở hẳn nơi mới.

              Đến năm 2002 huyện có 3 bản người H’mông định canh định cư trồng cây lúa nước, cây rừng và chăn nuôi gia súc gia cầm: đó là các bản Hồng Lâu, Khuôn Bổ và Đồng Ruộng. Người H’mông ở huyện không trồng thuốc phiện, vẫn giữ được nghề thủ công trồng lanh, se sợi, dệt vải làm chăn gối, may váy, áo. Khèn bè và sáo Mông là 2 nhạc cụ độc đáo thường được sử dụng vào các lễ hội. Khèn, kèn lá, đàn môi được thanh niên nam nữ sử dụng để gọi bạn tình và trao duyên.

 

15oC

Thấp nhất 13°C, cao nhất 17°C. Trời nhiều mây, . Áp suất không khí hPa.
Độ ẩm trung bình %. Tốc độ gió km/h