Tiếm năng thế mạnh

17/02/2017 04:22:03 Xem cỡ chữ

Tài nguyên khoáng sản

Căn cứ vào các tài liệu có liên quan đến quy hoạch, thăm dò khoảng sản của tỉnh Yên Bái, huyện Trấn Yên có một số khoáng sản có giá trị kinh tế như:

- Khoáng sản kim loại: Quặng sắt phân bổ ở Việt Hồng, Lương Thịnh, Hưng Thịnh, Hưng Khánh, Hồng Ca, Kiên Thành với tổng trữ lượng trên 91 triệu tấn, riêng mỏ quặng sắt ở Kiên Thành có hàm lượng trên 60%, hiện đang được khai thác.

- Khoáng sản phi kim loại: đá thạch anh phân bố tại xã Hoà Cuông, Việt Hồng, Lương Thịnh, Kiên Thành, Y Can trữ lượng trên 52 nghìn tấn, chất lượng đạt yêu cầu cho sản xuất kính và sứ. Quặng Graphit phân bố tại xã Báo Đáp, Đào Thịnh, Nga Quán. Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có các mỏ cao lanh tại Cường Thịnh trữ lượng 150.000 tấn; mỏ sét ở Bảo Hưng, Y Can, Đào Thịnh…

- Vật liệu xây dựng như: đá xây dựng, cát sỏi, vật liệu sản xuất gạch có trữ lượng lớn được phân bố rộng trên địa bàn huyện; đá xây dựng tại Hang Dơi Minh Quán, Việt Cường, Việt Hồng, Kiên Thành trữ lượng hàng triệu m3, cát sỏi dọc theo sông Hồng 3.100 nghìn m3.

Nhìn chung nguồn tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện đã được quy hoạch, quản lý và đưa vào khai thác góp phần cho phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái.

 

Tài nguyên đất

Theo số liệu thống kê đất đai ngày 31/1/2009, huyện Trấn Yên có tổng diện tích đất tự nhiên 62.859,54 ha, bao gồm:

- Đất nông nghiệp: có diện tích 57.142,02 ha, chiếm 90,9% diện tích tự nhiên, trong đó:

+ Đất sản xuất nông nghiệp: 8.354,48 ha chiếm 14,6% so với diện tích đất nông nghiệp. Trong đó: đất trồng cây hàng năm: 3.903,79 ha (đất trồng lúa: 2.964,88 ha, đất cỏ dùng vào chăn nuôi: 24,5 ha, đất trồng cây hàng năm khác: 914,41 ha), đất trồng cây lâu năm: 4.450,69 ha.

+ Đất lâm nghiệp 48.554,8 ha chiếm 84,97% so với diện tích đất nông nghiệp. Trong đó: đất rừng sản xuất: 29.407,17 ha; đất rừng phòng hộ: 19.147,63 ha.

+ Đất nuôi trồng thuỷ sản: 232,73 ha, chiếm 0,4% so với diện tích đất nông nghiệp.

 

Tài nguyên rừng

Tổng diện tích đất lâm nghiệp đến năm 2008 là 48.554,8 ha chiếm 77,24% so với diện tích đất tự nhiên

- Đất rừng sản xuất 29.407,17 ha. Trong đó đất rừng tự nhiên sản xuất 10.067,1 ha; đất rừng trồng 25.848,34 ha, gồm có rừng quế 6.927,1 ha, rừng tre Bát Độ 1.019 ha, rừng keo, bồ đề 17.156,2 ha, rừng tre luồng 746 ha; trong đó:

+ Diện tích rừng đạt tiêu chuẩn 22.397 ha, trong đó rừng quế 6.501,4 ha, rừng bồ đề, keo 14.541 ha, rừng luồng 746 ha, rừng tre bát độ 608,6 ha.

+ Rừng phòng hộ 10.590,8 ha, trong đó rừng tự nhiên phòng hộ 10.160,4 ha, rừng trồng phòng hộ 430,4 ha.

 - Trữ lượng rừng: Tổng trữ lượng gỗ rừng các loại 1.867.000 m3, trong đó: trữ lượng gỗ rừng tự nhiên 1.067.000 m3, gỗ rừng trồng 800.000 m3. Trữ lượng tre, nứa, luồng các loại 3.654 nghìn cây. Trong đó: tre, luồng, rừng trồng 1.119 nghìn cây, tre nứa rừng tự nhiên 2535 nghìn cây.

Nhìn chung rừng của huyện Trấn Yên cơ bản là rừng tái sinh, rừng trồng chiếm tỉ lệ trên 60% có trữ lượng khá, hàng năm đưa vào khai thác từ 1200 – 1300 ha, với sản lượng 60 – 70 nghìn m3.

 

Tài nguyên nước

 - Nguồn nước mặt: Trấn Yên có sông Hồng bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua địa phận theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Đây là giao thông đường thuỷ lớn nhất của huyện. Hệ số xâm thực sông Hồng rất lớn: 450 tấn/km2/năm, nên lượng phù sa sông Hồng cao, bình quân 1,39 kg/m3/năm, đây cũng là lượng phân bón rất tốt cho sản xuất nông nghiệp với các xã ven sông.

- Hệ thống ngòi, suối: Trấn Yên có gần 30 ngòi, suối phân bố tương đối đều trên địa bàn, đặc biệt của ngòi suối ngắn, dốc thuận tiện cho việc xây dựng các công trình thuỷ lợi cung cấp nước tưới cho đồng ruộng và thuỷ điện nhỏ.

 - Ngoài hệ thống sông ngòi, Trấn Yên còn có hệ thống ao, hồ khá phong phú, có tổng diện tích gần 700 ha là tiềm năng rất lớn cho việc nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản cũng như xây dựng các điểm du lịch sinh thái trong tương lai.

 

Nguồn nhân lực

Dân số trung bình năm 2008 là 83.027 người, trong đó nam là 40.932 người, chiếm 49,3%, nữ 42.905 người, chiếm 50,7%; khu vực thành thị  là 5.876 người, chiếm 7,1%, nông thôn 77.151 người chiếm 92,9%. Dân số trong độ tuổi lao động 45.922 người, chiếm 55,31%, trong đó dân số có khả năng lao động là 44.972 người, chiếm 97,93%, số người không có khả năng lao động là 951 người, chiếm 2,07%. Lao động phân theo khu vực: Nông thôn 42.364 người chiếm 94,2%, thành thị 2.608 người, chiếm 5,8%. Lao động phân theo các ngành kinh tế: Lao động nông lâm nghiệp và thủy sản 30.486 người, chiếm 72,5%, lao động công nghiệp xây dựng 1.943 người chiếm 4,26%, lao động thương mại dịch vụ 1.484 người, chiếm 3,53%; lao động khác 8.136 người, chiếm 19,35%. Số lao động chưa có việc làm là 2.923 người, chiếm 6,5% so với số người có khả năng lao động. Tuy nhiên lao động của huyện chủ yếu là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo tay nghề, nhất là ở khu vực nông thôn.

Trình độ dân trí: Năm 2008, bình quân 5,1 người dân có 1 người đi học, 1 vạn dân có 3,5 bác sỹ, 100% số xã được phổ cập giáo dục tiểu học và THCS., tỷ lệ phủ sóng phát thanh 50%, tỷ lệ phủ sóng truyền hình 75%, tỷ lệ hộ dân cư được nghe nhìn chiếm 85%.

 

Nông nghiệp

Diện tích gieo cấy lúa cả năm đạt 5.243,2 ha, chủ yếu tập trung ở các xã dọc sông Thao với những cánh đồng phù sa màu mỡ và ở các xã vùng trong với những bồn địa đất đai phì nhiêu. Đây chính là điều kiện đưa Trấn Yên tăng năng suất, chất lượng, sử dụng bộ giống có giá trị cao trên thương trường như các loại giống lúa thơm, lúa đặc sản để vươn tới mục tiêu 50 triệu đồng/ha canh tác vào những năm cuối thập niên thứ nhất của thế kỷ 21.

 

Giao thông vận tải

Huyện Trấn Yên có một hệ thống giao thông khá thuận lợi. Từ Trấn Yên có thể đi tới các huyện Văn Yên, Lục Yên, Văn Chấn, Nghĩa Lộ, Thành phố Yên Bái và các tỉnh bạn như: Phú Thọ, Hà Nội …. Hệ thống giao thông đường bộ đã đóng góp tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xây dựng nông thôn mới.

- Đường sắt Hà Nội – Lào Cai đi qua địa phận của huyện Trấn Yên với chiều dài 30 km, thuộc địa giới hành chính của 6 xã, có 2 nhà ga trung tâm chuyển hàng hoá và hành khách là ga Cổ Phúc (thị trấn huyện lỵ) và ga Ngòi Hóp (xã Báo Đáp). Đường sắt là mạch máu giao thông quan trọng nối Trấn Yên với mạn thượng du và vùng trung du đồng bằng Bắc Bộ.

- Đường thuỷ trên sông Thao, đoạn chạy qua địa phận huyện Trấn Yên dài 40 km. Đây là tuyến đường thuỷ cho các loại tàu thuyền trọng tải nhỏ từ Minh Quân tới Ngòi Hóp và Mậu A (Văn Yên). Trên sông có 24 bến đò ngang và một số tuyến đò dọc từ thành phố tỉnh lỵ đi Văn Phú – Minh Quân, từ Cổ Phúc đi Quy Mông – Ngòi Hóp.

.

 

15oC

Thấp nhất 13°C, cao nhất 17°C. Trời nhiều mây, . Áp suất không khí hPa.
Độ ẩm trung bình %. Tốc độ gió km/h